Tráp sắc phong thời vua Tự Đức
Cập nhật: 5/30/2023 4:07:05 PM
Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận hiện đang lưu giữ một bộ Tráp sắc phong thời vua Tự Đức (1847-1883). Bộ tráp gồm: 01 hộp tráp, 01 ống quyển đựng sắc phong. Hộp tráp và ống quyển được làm bằng gỗ, chạm khắc thủ công tinh xảo, sơn màu nâu đỏ. Trên hộp có hoa văn rồng chầu mặt trời, mây cuộn. Trên ống có trang trí các hoa văn như hình mây cuộn. Hộp tráp có kích thước: Dài = 71cm; rộng = 19cm; cao = 20cm. Ống quyển có kích thước: Dài = 60cm; đường kính = 6cm. Bộ tráp có niên đại vào khoảng năm 1851-1879. Hiện vật tuy cũ nhưng còn nguyên vẹn. Tráp sắc phong được Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận sưu tầm vào ngày 23/7/2018.

Bộ tráp sắc phong thần thời vua Tự Đức
Sắc phong (chữ Nho: 敕封) hay sách phong (册封) là văn bản truyền mệnh lệnh của nhà vua nhằm phong chức tước cho quý tộc, quan chức, khen thưởng những người có công hoặc phong thần và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền theo tín ngưỡng làng xã của người Việt. Sắc phong thường làm bằng loại vải hay giấy đặc biệt. Sắc phong truyền tải lại cho hậu thế các tư liệu quý giá, trung thực về tên, tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử như: quê quán, công trạng và xếp hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng tôn thần). Nó biểu thị sự tôn vinh của vương triều và cộng đồng cư dân với vị thần đó. Nó chứa đựng một số thông tin có thể bổ sung thêm cho lịch sử và là một nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu các tín ngưỡng dân gian. Qua sắc phong người ta có thể biết thêm những thông tin về hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể. Đây là một loại cổ vật rất giá trị do có tính độc bản và là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện. Sắc phong gồm 02 loại cơ bản: sắc phong chức tước và sắc phong thần.
Sắc phong chức tước là loại sắc phong do nhà vua các triều đại quân chủ dùng để phong chức tước cho các quan lại, quý tộc, người có công... Loại này không còn nhiều và thường do các gia đình dòng họ lưu giữ nên không mấy khi được phổ biến ra trước công chúng. Các tước hiệu được phong có thể kể đến như: Công tước (Công), Hầu tước (Hầu), Bá tước (Bá), Tử tước (Tử/Nữ tử tước), Nam tước (Nam) hay phong lập Hoàng hậu, Phi tần, Mệnh phụ… Sắc phong gắn với quyết định của nhà vua về tổ chức nhân sự (tuyển bổ, ban phong phẩm hàm, khen thưởng) có thể kể đến các loại như: cáo sắc, sắc văn, sắc thư. Cáo sắc dùng để phong tặng cho các quan văn từ hàng ngũ phẩm, quan võ từ hàng chánh ngũ phẩm trở lên. Sắc văn (nguyên là Chiếu văn) dùng để cấp cho quan võ tứ phẩm trở xuống. Sắc thư dùng để phong cấp cho các quan lại được giao nhiệm vụ quan trọng.
Tùy theo từng loại “sắc” để có những quy định khác nhau về kích cỡ, màu sắc, họa tiết mà trang trí, trình bày họa tiết khác nhau. Sắc phong cho bách quan có 03 hạng là: Nhất cao sắc, Nhị cao sắc, Tam cao sắc (có tài liệu gọi là Nhất đẳng quan, Nhị đẳng quan và Tam đẳng quan). Sắc phong hạng nhất cho bách quan xung quanh vẽ 8 con rồng nhỏ, mặt trước vẽ 1 con rồng lớn, mặt sau vẽ tứ linh (long, lân, quy, phượng). Sắc phong hạng nhì cho bách quan xung quanh vẽ mây hoặc họa tiết hồi văn (những họa tiết hoa văn có tính lặp lại), mặt trước đôi rồng, mặt sau vẽ nhị linh (long, lân)...
Sắc phong thần là loại sắc phong dùng để xác nhận phong thần, do nhà vua các triều đại quân chủ phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ cúng trong các đình làng (Thành hoàng/ Thần Thành hoàng…). Phần lớn các đình làng của người Việt đều được các triều đại quân chủ nối tiếp nhau ban sắc phong. Đây là một loại cổ vật rất giá trị, tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như: nhân vật huyền thoại (Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử…), vật linh, các hiện tượng thiên nhiên (mây, mưa, sấm, chớp..). Nhân vật trên sắc phong thần cũng có thể là những người dân bình thường nhưng có công khai hoang lập làng, truyền dạy nghề thủ công hoặc có công đức với cộng đồng… gắn liền với lịch sử làng xã cổ truyền. Thậm chí có nhiều làng, người được sắc phong thần làm thành hoàng chỉ là một người rất bình thường, có khi còn là ăn mày, trộm cướp... (nhưng loại này thường không được nhà nước công nhận và dần bị xóa bỏ). Các sắc phong thần còn phản ánh quyền uy tối thượng của nhà vua. Nó thể hiện rằng nhà vua là con trời xuống dân gian để cai quản con dân nên không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…). Mặt trước của sắc phong thần có hình rồng uốn lượn cùng mây trời. Hình ảnh con rồng có lúc màu bạc, có lúc màu xám, có khi là một con rồng lớn ấn hiện trong những đám mây, có lúc vẽ rồng to và mây thưa. Chung quanh viền có khi vẽ liên vân, khi vẽ hoa văn hoa dây, có khi lại vẽ liên đẳng. Mặt sau thì vẽ lân phượng, tứ linh, vẽ đồ cổ hoặc vẽ hình lá cùng dây leo. Thần có Thiện Thần và Ác Thần. Hai thế lực này luôn đối nghịch với nhau, song trong cuộc chiến giữa thiện và ác thì chiến thắng cuối cùng thuộc về các Thiện Thần. Thần là một bậc trong Ngũ Chi Đại Đạo (5 nhánh của nền Đại Đạo): Nhân đạo (Nhân), Thần đạo (Thần), Thánh đạo (Thánh), Tiên đạo (Tiên), Phật đạo (Phật). Sắc phong cho bách thần có 03 hạng là: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Những sắc phong này được rước về đình, đặt lên hương án để thay thần tạ ơn vua. Thượng đẳng thần bao gồm các vị thần có công lớn với dân, với nước (công trạng hiển hách), được nhà vua sắc phong và lập đền thờ như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão,… và các thiên thần được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian như: Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, Liễu Hạnh công chúa, Chử Đồng Tử… Trung đẳng thần là các vị thần hoặc các quan địa phương có công khai điền lập ấp, có ơn với dân; có khi là các vị thần mà dân làng thờ đã lâu, có tên họ mà không rõ công trạng; hoặc có quan tước mà không rõ tên họ; hoặc những vị thần có chút linh dị, cho tới khi vua cầu đảo, có ứng nghiệm thì triều đình phong làm Trung đẳng thần. Hạ đẳng thần là những vị thần được dân làng thờ cúng tuy không rõ thần tích, nhưng cũng thuộc bậc chính thần. Triều đình theo đề đạt của dân làng mà sắc phong làm hạ đẳng thần. Ngoài ba vị phúc thần trên, nhiều làng còn thờ cúng cả những vị thần kỳ dị như: thần ăn mày ở làng Thư Lan – Nam Hà; thần ăn trộm ở làng Lộng Khê – Thái Bình; thần gắp phân ở làng Cổ Nhuế – Hà Nội; thần trẻ con, thần tà dâm… Theo cách giải thích của dân gian thì những vị thần này ngoài những khả năng khác thường, họ còn được thờ cúng bởi chết vào các giờ thiêng. Lúc đầu do sợ hãi mà dân làng thờ cúng sau lâu dần họ được thờ phụng rộng rãi hơn nhằm giúp dân làng xua đi rủi ro, bảo trợ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng làng.

Bản sắc phong Thành Hoàng cho Phi Vận tướng quân Nguyễn Phục làm Hiển Văn Chiêu Tiết Trung đẳng thần
Thời vua Tự Đức năm thứ 3 (1850) đã có quy định về hệ thống phẩm trật cụ thể như sau:
|
|
Phẩm cấp
|
|
Tính chất
|
Thượng đẳng thần
|
Trung đẳng thần
|
Hạ đẳng thần
|
|
Thiên thần
|
Túy mục
|
Linh thủy
|
Thuần chính
|
|
Thổ thần
|
Hàm quang
|
Tĩnh hậu
|
Đôn ngưng
|
|
Sơn thần
|
Tuẫn tĩnh
|
Củng bạt
|
Tứ ngực
|
|
Thủy thần
|
Hoành hợp
|
Nông nhuận
|
Trừng trạm
|
|
Dương thần
|
Trác vĩ
|
Quang ý
|
Đoan túc
|
|
Âm thần
|
Trang huy
|
Trai thục
|
Nhan uyên
|
Các chi phẩm trật thường đi kèm với các mỹ tự. Nếu sắc phong nào không chỉ rõ là thượng, trung hay hạ đẳng thần thì chúng ta căn cứ vào những từ chỉ phẩm trật để biết vị thần đó được xếp vào hạng nào. Cũng nhìn vào hệ thống phẩm trật, chúng ta cũng có thể biết được vị thần đó thuộc loại thần nào. Thần mỗi lần được phong là thêm một mỹ tự (từ ghép Hán Việt) nêu bật phẩm chất, tính cách quy định theo chủng loại Thiên thần, Thổ thần, Sơn thần, Thủy thần, Dương thần, Âm thần. Như vậy càng nhiều lần được phong, thần càng có nhiều mỹ tự. Cấp bậc ngạch trật từ thấp đến cao gồm: chi thần, tôn thần (hạ đẳng thần), trung đẳng thần, thượng đẳng thần, thượng thượng đẳng thần. Nhân thần hiếm khi được phong đến thượng đẳng. Theo PGS. Nguyễn Duy Hinh, phổ thần làng bao gồm: Thần Tự nhiên (nhiên thần), thần Người (nhân thần) và thần linh tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo). Nhưng không phải làng nào cũng có đủ 03 hệ thần linh. Có khi mỗi làng chỉ thờ 01 vị (Thành hoàng). Có khi 01 làng lại thờ 2 – 3 vị. Có khi 2, 3 nơi cùng thờ 01 vị. Thành hoàng (城隍) hay Thần hoàng (神 隍), Thần Thành hoàng (神城隍), Thần Thành hoàng bản cảnh (神隍本境), là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Vị thần này dù có hay không có tên và lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là “hộ quốc tý dân” (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó. Xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành hay tòa thành; hoàng là cái hào bao quanh cái thành; ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành. Có thể hiểu vị Thần Thành hoàng là vị chủ thần trông coi, quản lý cái tòa thành đó (tương tự Thành chủ hay Quận vương thời xưa). Thành hoàng thường được thờ ở đình, miếu tuy nhiên có nơi thờ Thành hoàng ở chùa theo mô típ “Tiền Thần Hậu Phật”. Với quan điểm “Tam giáo đồng nguyên” (ba đạo giáo một nguồn) nên nhiều vị chân tu đắc đạo vẫn được phong thần như: Đại pháp thiền sư Từ Đạo Hạnh (chùa Thầy, Hà Nội) được phong làm Thánh tổ, tục gọi là đức Thánh Từ; Không Lộ thiền sư (chùa Keo, Thái Bình) được phong làm Thánh tổ, tục gọi là đức Thánh Không Lộ; Huệ Tổ thiền sư (chùa Cổ Tung, Nam Định), được phong làm Dực Bảo Trung Hưng - Linh phù tôn thần, tục gọi là đức Thánh Tu...Giấy sắc là một sản phẩm đặc biệt của nghề làm giấy truyền thống Việt Nam, với những trang trí đặc trưng của mỗi thời kỳ lịch sử và của từng trung tâm sản xuất giấy sắc. Nghề làm giấy ở Việt Nam đã tồn tại hơn 1.000 năm nhưng nghề làm giấy sắc hay giấy sắc phong chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ 17. Loại giấy được sử dụng chủ yếu là giấy được làm từ cây dó (giấy dó).
Qua nghiên cứu chất liệu, kỹ thuật làm giấy cùng những hình tượng, đường nét trang trí có thể cung cấp những thông tin rất có giá trị. Hiện nay, nghề làm giấy sắc hầu như đã mai một, nên việc bảo tồn sắc phong cũng là một cách bảo tồn rất hữu hiệu những chứng tích cụ thể của nghề thủ công cổ truyền này.
Lê Công Khoa – Phòng Nghiệp vụ