Đàn tranh còn được gọi là đàn thập lục vì gồm 16 dây (miền Bắc). Trước đây, đàn tranh thường dùng trong dàn nhạc ngũ nguyệt, tài tử hoặc chỉ độc tấu hay đánh đệm cho hát trong những phạm vi nhỏ, phụ nữ dùng làm chính. Ngày nay, nó được sử dụng trong mọi tổ chức diễn xuất: độc tấu, hòa tấu, đệm hát, đệm ngâm thơ, đệm cho 1 số nhạc khí khác như: sáo, đàn nhị, đàn nguyệt... Gần đây, 1 số dàn nhạc đã làm thêm các loại đàn tranh to hơn, âm trầm hơn (loại cổ tranh của Trung Quốc có 25 dây).
Đầu đàn (đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn) có 1 đường cong bằng kim khí gọi là cầu đàn. Cầu đàn hơi bị nhô lên và Đường tròn theo từng đường cong của mặt đàn, là điểm tựa của 16 dây kim khí. Từ đầu đàn, mỗi dây lại chạy qua 1 dây đàn (còn gọi là con dấu), rồi được cuộn vào 1 trục lên dây ở phía đầu đàn kia. Các đàn đều cao và không cố định (có thể di chuyển), do đó vẫn có thể sử dụng điều chỉnh độ cao thấp của dây. Tùy theo độ dài ngắn của dây đàn (lời từ đầu đàn đến ngựa đàn) mà mỗi dây phát ra 1 âm thấp, cao khác nhau.